Trong những năm gần đây, Việt Nam đón chịu hàng loạt và ngày càng tăng các hiểm hoạ từ thiên nhiên như hạn hán, mưa đá, bão, lụt, lũ quét, trượt đất, và lốc xoáy...
Trong những năm gần đây, Việt Nam đón chịu hàng loạt và ngày càng tăng các hiểm hoạ từ thiên nhiên như hạn hán, mưa đá, bão, lụt, lũ quét, trượt đất, và lốc xoáy... Các hiện tượng khí hậu hiếm khi xảy ra như mưa đá cũng trở nên thường xuyên hơn, và nghiêm trọng hơn là ở cả những khu vực trước đây thường được cho là an toàn. Người nghèo và những người ở vùng sâu vùng xa thiếu các điều kiện phòng vệ thường chịu tác động nhiều nhất.
Một trong những yếu tố gây ra thiên tai là sự tổn hại của mối quan hệ hài hoà giữa con người và thiên nhiên. Các tác động làm thay đổi hay huỷ diệt thiên nhiên như việc xây dựng các đập thuỷ điện khổng lồ, triệt hạ rừng đầu nguồn đã làm thay đổi các yếu tố sinh lý học, giảm khả năng chịu đựng và phục hồi của môi trường.
Vì vậy, nếu chỉ chú trọng vào tính thiên nhiên của hiểm hoạ mà bỏ qua tính con người, tính xã hội của nó thì không thể hiểu được đầy đủ bản chất của “thiên tai”. Nhiều học giả cho thấy thiên tai là sự giao thoa của yếu tố nguy hiểm tự nhiên và tính mẫn cảm (vulnerability) của cộng đồng. Tính mẫn cảm của một cộng đồng là yếu tố xã hội tạo ra từ đặc thù của các nhân tố kinh tế xã hội và chính trị khác nhau. Điều này thấy rõ ở cách đối phó và hậu quả của dịch SARS ở Trung Quốc và Việt Nam, hay cúm gà và dịch tả ở nước ta trong thời gian gần đây.
Vậy chúng ta có thể làm gì để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra? Trên thế giới, chu trình quản lý thiên tai (disaster management cycle) thường được áp dụng. Chu trình này bao gồm các nội dung như giảm thiểu (hay làm nhẹ), sẵn sàng, ứng phó, và phục hồi. Trong đó, hai nội dung đầu được tiến hành trước hiểm hoạ và hai yếu tố sau tiến hành khi, và sau khi hiểm hoạ đã xảy ra. Việc khắc phục hậu quả sau thiên tai như cứu người, ngăn ngừa dịch bệnh là cực kỳ cần thiết song công tác giảm thiểu trước thiên tai rõ ràng mang tính chủ động hơn và có khả năng giới hạn hậu quả hết sức to lớn.
Mặc dù, các hiểm hoạ thiên nhiên cần được nhận thức ở tầm toàn cầu, hành động cụ thể đều phải xuất phát từ địa phương nơi biện pháp giảm thiểu có thể thực hiện hiệu quả nhất. Công tác này có thể được thực hiện theo nhiều cách ở nhiều cấp độ khác nhau trong đó việc giảm các nguy cơ và tính mẫn cảm là vô cùng quan trọng. Nguy cơ có thể được giảm thiểu bằng cách hạn chế các yếu tố tạo nguy cơ như tránh tập trung dân hay đô thị hoá ở vùng nguy hiểm hay thiếu tính bền vững. Cộng đồng cũng có thể làm giảm tính mẫn cảm của chính mình bằng cách tạo lập môi trường sống mạnh mẽ, có sức chống chọi và khả năng phục hồi cao. Ví dụ như tiết kiệm điện, nước, giấy, tái sử dụng túi nylon hay trồng rừng, hạn chế chặt hạ rừng, cải tiến công nghệ sản xuất giảm chất thải nhà kính, bảo vệ nguồn nước, đất đai.
Phòng ngừa là biện pháp thông minh nhất, hiệu quả kinh tế nhất trong các cách đối phó với các hiểm hoạ thiên nhiên. Để làm được điều này, phát triển bền vững phải được xem là trọng tâm. Người dân và nhất là những người có trách nhiệm cần hiểu rõ các nguy cơ, sự mẫn cảm của cộng đồng, cần trang bị các kiến thức để các nỗ lực phát triển của cộng đồng, của đất nước không mâu thuẫn với sự tồn tại vững bền của môi trường nơi họ sinh sống. Đáng tiếc, ở các quốc gia nghèo việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu thiên tai thường kém do thiếu quyết tâm chính trị, cơ chế cồng kềnh, lợi ích cục bộ, tiền bạc, và cả môi trường văn hoá.





